Hành trạng

Được biết, cố Hòa thượng người họ Nguyễn, sinh năm Canh Thìn - tức năm Tự Đức thứ 33 (1880). Nguyên quán Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Song thân mất sớm. Năm Giáp Ngọ (1894), ngài xin xuất gia lúc 15 tuổi tại chùa Tổ Đình Từ Hiếu, thờ ngài Tâm Tịnh làm thầy.

Năm Thành Thái thứ 12, Canh Tý (1900), ngài thọ Sa-di, lúc đó được 21 tuổi. Ba năm sau, năm Giáp Thìn (1904), khi ngài được 24 tuổi, Đại sư Tâm Tịnh nhường chùa Từ Hiếu cho bổn phái để về dựng am Thiếu Lâm, tức là chùa Tây Thiên hiện nay, ngài được về đây tu theo Bổn sư.

Năm Duy Tân tứ niên, Canh Tuất (1910), ngài thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm, Hội An và được chọn làm Thủ chúng trong hàng thọ giới.

Vào khoảng năm Duy Tân thứ 7 - Quý Sửu (1913), Tỳ-kheo-ni, người danh gia vọng tộc họ Hồ, có pháp danh Thanh Linh, tự Diên Trường vừa dựng xong chùa Trúc Lâm ở Dương Xuân Thượng. Ni trưởng đã đến chùa Thiếu Lâm xin với Đại sư Tâm Tịnh cho thỉnh ngài Giác Tiên về làm vị khai sơn tọa chủ chùa ấy. Từ đó, ngài thâu nạp đồ đệ về Trúc Lâm, mở Đạo tràng giảng kinh.

Năm 37 tuổi, niên hiệu Khải Định năm đầu, Bính Thìn (1916), ngài được Bổn sư phú pháp và cho kệ:
                       覺  道  劫  空  先
                       空  空  般  若  禪
                       果  因  浮  行  解
                       處  處  即  安  然.
Phiên âm:         Giác đạo kiếp không tiên            
                        Không không Bát-nhã thiền       
                        Quả nhân phù hạnh giải
                        Xứ xứ tức an nhiên.
        
Trí Không dịch:
                        Đường giác không kiếp trước
                        Thuyền Bát Nhã chân không
                        Nhân quả hóa hợp giải
                        Ở đâu cũng thung dung.

Đồng thời, đặt cho pháp danh là Trừng Thành, hiệu Chí Thông, tự là Giác Tiên; thế thứ 42 dòng Lâm Tế, thứ  8 của dòng Liễu Quán.

Năm Khải Định thứ 5, Canh Thân (1920), ngài Huệ Pháp mở Đạo tràng giảng kinh ở chùa Thiên Hưng, các khóa giảng thường xuyên được mở ra do chính Hòa thượng Huệ Pháp chủ trì, ngài đã đem theo đệ tử cùng nhiều vị Tăng khác nhanh chóng tìm đến cầu học. Nơi đây, sau nhiều tháng ngày theo học, ngài được Hòa thượng Huệ Pháp khen tặng là người có túc căn thâm hậu, đủ sức xiển dương Phật pháp cho kẻ hậu tấn. Học trò của ngài đem theo ra học lớp Phật pháp này là các ngài Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể.

Năm Quý Hợi (1923), ngài tổ chức Đại giới đàn tại Tổ Đình Từ Hiếu. Tại giới đàn này, đệ tử của ngài là Mật Khế thọ đại giới, và Bổn sư ngài là Hòa thượng Tâm Tịnh làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới.

Năm Bảo Đại nguyên niên, Bính Dần (1926), ngài được sắc chỉ chuẩn làm trú trì chùa Diệu Đế. Năm Kỷ Tị (1929), ngài mở cuộc trùng tu chùa Trúc Lâm.

Tham khảo

https://giacngo.vn/tt-hue-huy-nhat-co-htthich-giac-tien-1880-1936-post27937.html https://quangduc.com/a54324/to-su-giac-tien