Tóm lược

Thiền sư Vạn Hạnh (932-1018) là người họ Nguyễn, phủ Bắc Giang, nay là tỉnh Bắc Ninh. Ngài là quốc sư của cả 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý. Cuộc đời huyền thoại của ngài đã gắng liền với sự phát triển của dân tộc Việt trong những buổi đầu gian nan giữ nước. Ngài đã ghi dấu trong cuộc khán chiến chống Tống, cuộc chiến với Chiêm Thành. Và đặc biệt, sự đăng cơ của ông Lý Công Uẩn và việc dời đô về Thăng Long đều có bóng dáng của ngài. Trên tất cả, ngài đã để lại một di sản là tinh thần nhập thế tích cực, nhập thế mà không nhiễm thế. Khiến Phật giáo trở thành một lực lượng năng động, tích cực trong việc kiến tạo xã hội, là chất keo sơn gắng bó hồn cốt dân tộc suốt ngàn năm.

Hành trạng

  • Năm 932: Tương truyền Ngài sinh vào năm này. Ngài họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp (Bắc Ninh), sinh trưởng trong một gia đình đời đời thờ Phật. Từ nhỏ đã thông minh khác thường, thông suốt Tam học (Văn, Tư, Tu) và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo
  • Năm 953: Ngài xuất gia năm 21 tuổi, cùng Thiền sư Định Huệ thụ giáo với Thiền sư Thiền Ông Đạo Giả tại chùa Lục Tổ (làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức).
  • Năm 980: Khi quân Tống (do Hầu Nhân Bảo chỉ huy) chuẩn bị xâm lược, vua Lê Đại Hành triệu ngài vào cung hỏi về thắng bại, ngài tiên đoán trong vòng 3 đến 7 ngày giặc sẽ rút lui, lời này sau đó quả ứng nghiệm. Ngài cũng khuyên vua nên đánh Chiêm Thành để cứu sứ giả bị bắt giữ.
  • Năm 1009: Sau khi vua Lê Ngọa Triều mất, ngài đã cùng Đào Cam Mộc vận động và hỗ trợ Lý Công Uẩn lên ngôi. Ngài là người giải mã các điềm sấm ký (như sự kiện cây gạo bị sét đánh ở Cổ Pháp) để khẳng định việc nhà Lý thay nhà Lê là thiên ý.
  • Năm 1010: Ngài ủng hộ và được xem là người thuyết phục Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (Đại La cũ) để tính kế lâu dài cho con cháu muôn đời.
  • Năm 1018 (hoặc 1025): Ngài không bệnh mà mất (có tài liệu ghi ngày rằm tháng 5 năm Mậu Ngọ 1018, tài liệu khác ghi năm 1025). Trước khi tịch, ngài để lại bài kệ “Thị đệ tử” nổi tiếng về lẽ vô thường của vạn vật.
  • Thời vua Lý Nhân Tông (1072–1127): Nhà vua đã làm bài kệ truy tán ngài, ca ngợi ngài là bậc thông suốt “ba mé” (quá khứ, hiện tại, vị lai) và có công dựng gậy vững kinh đô vua.

Tham khảo

  • “Thiền Sư Việt Nam” (Mục Thiền sư Vạn Hạnh, trang 155-157).
  • “Việt Nam Phật giáo sử luận” (Tác giả Nguyễn Lang, Tập I, Chương 6 và 8).
  • “Đại Việt sử ký toàn thư” (Phần Bản kỷ về nhà Lê và nhà Lý).
  • “Việt Nam sử lược” (Tác giả Trần Trọng Kim).
  • “Việt Sử Giai Thoại” (Tác giả Nguyễn Khắc Thuần)