Lược sử

  • Năm 1946: Đạo luật Fulbright chính thức được thành lập. Thượng nghị sĩ J. William Fulbright là người đưa ra sáng kiến đầy táo bạo khi đề xuất sử dụng nguồn tài sản thặng dư sau chiến tranh để tài trợ cho trao đổi học thuật, và Tổng thống Harry S. Truman đã ký phê duyệt đạo luật này để biến tầm nhìn đó thành hiện thực.
  • Năm 1948: Những chuyến trao đổi đầu tiên được vận hành. Nhóm các học giả và sinh viên đầu tiên chính thức lên đường ra nước ngoài học tập, đánh dấu sự bắt đầu của mạng lưới kết nối tri thức toàn cầu trên thực tế.
  • Năm 1954: Cột mốc vàng về chất lượng hàn lâm. Nhà khoa học Linus Pauling nhận giải Nobel Hóa học, mở đầu cho một năm bùng nổ khi có tới bảy học giả đã hoặc sẽ là thành viên Fulbright đạt giải danh giá này (trong đó có cả nhà kinh tế học lừng danh Milton Friedman).
  • Năm 1961: Thông qua Đạo luật Fulbright-Hays. Tổng thống John F. Kennedy ký ban hành luật mới nhằm mở rộng quy mô chương trình, cho phép các chính phủ nước ngoài cùng tham gia đóng góp tài chính để đồng sở hữu quỹ trao đổi song phương.
  • Năm 1965: Ươm mầm cho những nhà thay đổi thế giới. Chàng trai trẻ Muhammad Yunus đến từ Bangladesh nhận học bổng Fulbright sang Mỹ học ngành kinh tế; sau này ông trở thành giáo sư, người sáng lập Grameen Bank và được trao giải Nobel Hòa bình năm 2006 nhờ mô hình tín dụng vi mô hỗ trợ người nghèo.
  • Năm 1978: Mở rộng hệ sinh thái học bổng. Tổng thống Jimmy Carter thành lập Chương trình Hubert H. Humphrey (một nhánh quan trọng thuộc Fulbright) nhằm đưa các chuyên gia cấp trung từ các nước đang phát triển sang Mỹ bồi dưỡng năng lực lãnh đạo chuyên môn.

Với Việt Nam

  • Giai đoạn 1950 - 1975: Rất nhiều học giả, công chức Việt Nam tại miền Nam được chương trình học bổng này. Họ sang Mỹ theo hình thức sinh viên dự thính để tiếp cận môi trường học thuật, đời sống người dân Mỹ, làm công tác nghiên cứu trong một số lĩnh vực. Nhưng trong ngắn hạn và bắt buộc phải về nước để tiếp tục công tác. Một số Fulbright grantee nổi tiếng giai đoạn này có thể kể như: HT Thích Nhất Hạnh, Đoàn Viết Hoạt (trợ lý viện trưởng tại Viện đại học Vạn Hạnh), nhà ngôn ngữ Nguyễn Đình Hòa.
  • Năm 1992: Chương trình Fulbright chính thức bắt đầu tại Việt Nam. Hai Thượng nghị sĩ John McCain và John Kerry đã nỗ lực vận động Quốc hội Mỹ cấp ngân sách riêng cho Việt Nam, đặt viên gạch đầu tiên cho hợp tác giáo dục ngay trước khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
  • Năm 1993: Ra đời Giải thưởng Fulbright vì Hiểu biết Quốc tế. Hiệp hội Fulbright toàn cầu đã trao giải thưởng đầu tiên này cho lãnh tụ Nelson Mandela để vinh danh cuộc đấu tranh không mệt mỏi của ông chống lại chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid tại Nam Phi.
  • Năm 1995: Thành lập Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) tại TP. Hồ Chí Minh. Ông Thomas Vallely (Giám đốc Chương trình Việt Nam tại Đại học Harvard) đã cùng các cộng sự hợp tác với Đại học Kinh tế TP.HCM để tạo ra một không gian đối thoại chính sách và đào tạo chính sách công hiện đại đầu tiên cho Việt Nam.
  • Năm 2016: Bước chuyển mình thành Đại học Fulbright Việt Nam (FUV). Trong chuyến thăm chính thức tới Hà Nội, cựu Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố thành lập trường Đại học Fulbright Việt Nam – trường đại học độc lập, phi lợi nhuận đầu tiên tại Việt Nam, kế thừa và phát triển trọn vẹn di sản từ FETP.
  • Năm 2026: Kỷ niệm 80 năm kiến tạo tầm nhìn toàn cầu. Mạng lưới Fulbright dưới sự điều phối của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cùng các quốc gia đối tác tiếp tục khẳng định vị thế học bổng danh giá bậc nhất thế giới, cán mốc hỗ trợ cho hơn 400.000 cựu sinh viên xuất chúng trên khắp hành tinh.

Tham khảo

  1. Timeline - fulbrightprogram.org.
  2. Tài liệu về tiểu sử của Thượng nghị sĩ J. William Fulbright từ Ủy ban Fulbright quốc tế - fulbright.gov.cz
  3. Lịch sử khởi nguồn từ Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) sang trường đại học độc lập - fulbright.edu.vn