Trước năm 1965: Thiền sư Nhất Hạnh đề xướng học thuyết “Phật giáo dấn thân”, tạo nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam muốn đóng góp sức mình vào việc cải thiện xã hội và kiến tạo hòa bình.
Năm 1963: Thầy Thích Nhất Hạnh về Việt Nam sau một thời gian du học tại Hoa Kỳ.
Năm 1964: Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, các hoạt động văn hóa, giáo dục và xã hội được đẩy mạnh. Thầy Nhất Hạnh đề xuất Giáo hội việc dựng lập một trường đào tạo nhân viên xã hội để về giúp đỡ những cảnh khó khăn ở nông thôn, nhưng chưa được đồng ý. Sư cô Chân Không trở về từ Pháp, với sự tham gia của các nhóm sinh viên, Phật tử trẻ, Thiền sư Nhất Hạnh cùng các cộng sự xúc tiến việc điều tra thực tế và dựng lập 2 mô hình thí điểm tại Thảo Điền và Cầu Kinh, gọi là Làng tình thương Hoa Tiêu.
Năm 1965: Việc thí điểm đem lại kết quả khả quan. Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội chính thức được thành lập. Ban đầu, Ni Bộ Bắc tông (trụ sở tại Ni viện Từ Nghiêm) đã hỗ trợ cho trường mượn một đại giảng đường và một văn phòng để làm nơi làm việc và giáo dục. Viện Vạn Hạnh hỗ trợ chỗ ở cho các tăng sinh, vì trường SYSS là trường nội trú. Về sau, Chùa lá Pháp Vân được dựng lập tại Phú Thọ Hòa một cách khiêm tốn. Chùa được đặt tên theo ngôi chùa đầu tiên tại Việt Nam được biết đến, và xây cất giản dị với mái lá, vách đất và 2 căn nhà mái tole làm học đường và chỗ nghỉ.
Năm 1966: Trường đi vào hoạt động ổn định và bắt đầu đưa hàng ngàn cộng tác viên xã hội về vùng nông thôn, để thực hiện các chương trình y tế, giáo dục, phát triển cộng đồng. Cùng năm, thầy Nhất Hạnh rời Việt Nam đi Hoa Kỳ để kêu gọi hòa bình. Sư cô Chân Không lúc này gánh vác trách vụ tổ chức và vận hành chính của trường.
Năm 1967: Uy tín của trường và thầy Nhất Hạnh được thế giới bắt đầu biết đến, Thiền sư Nhất Hạnh được Mục sư Martin Luther King, Jr. đề cử giải Nobel Hòa bình. Không lâu sau đó, thầy bị buộc phải lưu vong vì bị cấm nhập cảnh về nước. Thời gian này, nhiều học viên, tình nguyện viên bị mất tích, tấn công một cách mờ ám, vài trường hợp đã được xác nhận bị hành quyết trong khi đi điều tra, giúp đỡ các xóm làng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Tuy nhiên, sự ủng hộ với hoạt động của trường và số lượng học viên dự học lại tăng chứ không giảm đi.
Năm 1968: gần 11 000 nạn dân bị ảnh hưởng bởi bom đạn đã chạy vào chùa lá để cầu cứu. Với số lượng sinh viên và nhân viên khoảng 37 người, chùa vẫn chăm sóc được cho những người bị nạn trong hơn 1 tuần lễ. Trong năm này, sư cô Chân Không âm thầm thoát ly khỏi miền Nam để cùng thầy Nhất Hạnh đi khắp thế giới kêu gọi hòa bình và tìm kiếm mọi nguồn cứu trợ có thể để giúp những nạn dân trong nước.
Năm 1973: Hoạt động phụng sự xã hội của Phật giáo tiếp tục được duy trì và mở rộng qua nhiều phân hội. Hòa thượng Thích Phước Huy được bầu làm Chủ tịch phân hội Hội Phật giáo Phụng sự xã hội, góp phần vào các công tác nhân đạo và xã hội tại miền Nam.
Năm 1975, trường tự giải thế, kết thúc 1 chặng đường kéo dài 10 năm với khoảng 9000 cộng tác viên phụng sự.
Sau năm 1975: Hệ thống các tổ chức thanh niên và xã hội của Phật giáo dần chuyển đổi mô hình hoạt động trong bối cảnh đất nước thống nhất. Tinh thần của SYSS vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các hoạt động thiện nguyện và nhập thế của Phật giáo Việt Nam cho đến ngày nay.
Một vài thành viên SYSS (danh sách đang được bổ sung)